Tin tức & sự kiện

Mùa xuân nhìn lại hành trình hàng hải Việt Nam

Ngày cập nhật: 13-02-2018 13:26 (Đã xem 548 lần)

 

 

Tượng trưng cho tinh hoa văn hóa cũng như ý chí quật cường của dân tộc ta đều chạm khắc hình những con thuyền đang lướt sóng, thể hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết của người Việt với sông, biển do nhu cầu trao đổi hàng hóa, những tuyến đường giao thương trên biển được hình thành kéo theo sự xuất hiện rất sớm của các thương cảng. Những thương cảng này góp phần làm cho thương mại quốc tế phát triển, tạo nên sự giao lưu vật chất, tinh thần, văn hóa nhằm nâng cao đời sống và mở mang trí tuệ cho người dân Việt.

Sau khi tạm thời bình định về mặt quân sự ở Việt Nam cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở nước ta trong đó hết sức chú trọng đến việc xây dựng đường sá, cảng biển. Lần lượt các cảng Cửa Cấm (cảng Hải Phòng) được xây dựng năm 1857, năm 1863 khởi công xây dựng cảng Nhà Rồng (cảng Sài Gòn), đến năm 1901 là cảng Đà Nẵng.

 

Giai đoạn 1945-1975

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tháng 05 năm 1955 hai tàu quốc tịch Pháp (tàu SAINT VALERY EN CAUX và LE VERDON) cập Cảng Hải Phòng an toàn. Và cảng Hải Phòng được ghi danh vào bản đồ hàng hải quốc tế với vị trí là thương cảng lớn nhất miền Bắc. Tháng 3 năm 1957, Công ty Đại lý tàu biển Việt Nam (VOSA), một trong những công ty đầu tiên của ngành hàng hải Việt Nam lúc bấy giờ được thành lập. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, nguồn thu ngoại tệ của đất nước ta chưa có gì đáng kể, kim ngạch xuất khẩu của ngành ngoại thương chỉ phôi thai của giai đoạn đầu và VOSA nổi lên như một doanh nghiệp góp phần đáng kể cho nguồn thu ngoại tệ của Nhà nước. Trong quá trình hình thành và phát triển các cơ sở đầu tiên của ngành vận tải biển, Nhà nước ta cũng ban hành một số thể lệ, quy định về cước phí ở các cảng, thể lệ về giao nhận, bốc xếp hàng hóa, thể lệ cho các tàu buôn nước ngoài ra vào các cảng Việt Nam, các thể lệ quan hệ của tàu nước ngoài với Công ty Đại lý tàu biển Việt Nam (VOSA). Năm 1960, khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đạt 230.000 tấn. Từ năm 1961 đến năm 1965, các cảng Hải Phòng, Hòn Gai, Bến Thủy… có thêm nhiều tàu nước ngoài cập bến, góp phần thúc đẩy công thương nghiệp phát triển.

Trước yêu cầu phục hồi và tổ chức lại sản xuất của ngành Đường biển, Bộ Giao thông vận tải quyết định thành lập Công ty Vận tải biển Việt Nam (VOSCO). Ngày 01/7/1970, VOSCO chính thức đi vào hoạt động, là lực lượng chủ lực có trách nhiệm tổ chức các tuyến vận tải Hải Phòng – Hongkong, Hải Phòng – Quảng Châu… Tài sản của VOSCO là 217 tàu nhưng tổng trọng tải chỉ gần 35.000 tấn; tàu lớn nhất là 3.500 tấn…

 

Giai đoạn 1975-1995 

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông nối liền một dải. Trong bối cảnh vừa thoát khỏi chiến tranh, ngành hàng hải nước nhà gặp vô vàn khó khăn, đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh đầu tư, tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất; mở rộng liên doanh liên kết với các địa phương, với các ngành trong và ngoài nước. Tháng 4 năm 1975, 2 con tàu Giải Phóng và tàu Bến Thuỷ đã cập bến sông Hàn trước sự chào đón nồng nhiệt của đại diện các tầng lớp nhân dân Đà Nẵng. Tiếp sau đó, ngày 2 tháng 5, con tàu JIGUANI từ đất nước Cu Ba anh em cũng cập cảng Đà Nẵng an toàn. Cũng trong tháng 5/1975, tàu Sông Hương trọng tải 10.000 tấn đã cập cảng Nhà Rồng (cảng Sài Gòn) chính thức thông tuyến vận tải Bắc Nam sau bao năm đất nước chia cắt.

Tháng 6 năm 1975, Công ty Vận tải biển miền Nam Việt Nam (tiền thân của Công ty cổ phần Vận tải và thuê tàu biển Việt Nam – Vitranschart JSC ngày nay) ra đời, Công ty tiếp quản các cơ sở hàng hải với đội tàu của chế độ cũ để lại, kinh doanh theo phương thức tự quản, vận tải ven biển nội địa. Đội tàu viễn dương mà chủ lực là VOSCO và Vitranschart từ chỗ chỉ hoạt động kinh doanh có hiệu quả ở khu vực các nước XHCN, đã vươn ra cập bến hầu hết các cảng trên thế giới, phát triển thêm nhiều tuyến vận tải viễn dương mới. Nhờ khai thác tốt các tuyến vận tải nước ngoài mà ngành đường biển mang lại cho Nhà nước hàng triệu đôla Mỹ.

Năm 1990, Quốc hội thông qua Bộ luật hàng hải là Bộ luật chuyên ngành đầu tiên của nước ta, thể hiện tư duy quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với ngành hàng hải. Thời gian này, các công ty liên doanh lần lượt ra đời và hoạt động tương đối hiệu quả: Công ty Vận tải Hải Âu (Sesco), Công ty liên doanh Vận tải biển Việt-Pháp (Gemartrans), Công ty CP Đại lý liên hiệp vận chuyển (Gemadept)…

Tháng 6/1992, Cục Hàng hải Việt Nam được thành lập, tách hầu hết các nhiệm vụ quản lý sản xuất kinh doanh, tập trung làm công tác quản lý Nhà nước chuyên ngành Hàng hải trên phạm vi cả nước.

 

Giai đoạn 1995 đến nay

Bằng Quyết định số 250/TTg ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam được thành lập trực thuộc Chính phủ, là doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo trong ngành hàng hải Việt Nam. Có thể nói đây là thời điểm quan trọng về mặt tổ chức và thể chế của ngành hàng hải, thời điểm mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, từ năm 1996, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam là doanh nghiệp đầu đàn của ngành hàng hải Việt Nam.

Trong những năm qua, hệ thống cảng biển Việt Nam trong đó có cảng cửa ngõ quốc tế, cảng ở các vùng kinh tế trọng điểm, cảng trung chuyển được quan tâm ưu tiên đầu tư phát triển. Các cảng tổng hợp và cảng container trên sông Cái Mép – Thị Vải tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã được xây dựng và đưa vào vận hành khai thác có khả năng tiếp nhận cỡ tàu có trọng tải trên 14.000 TEUs. Đây là cụm cảng trung chuyển quốc tế mà các hãng tàu lựa chọn và là một trong 3 cảng nước sâu trong khu vực. Hơn chục tuyến dịch vụ vận tải quốc tế, các hãng tàu vận tải container hàng đầu thế giới đã có mặt tại Cái Mép – Thị Vải. Đầu năm 2017, Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) – liên doanh giữa Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, cảng Sài Gòn và APM Terminal, đã tiếp nhận chuyến thử nghiệm tàu mẹ Margrethe Maersk có sức chở lên đến trên 18.000 Teus. Đây là tàu lớn nhất từ trước tới nay cập cảng biển Việt Nam. Bước đầu hàng hóa Việt Nam đã được vận chuyển thẳng đến hai bờ Đông, Tây nước Mỹ và các nước Tây Âu không phải trung chuyển qua các cảng của nước thứ ba, giảm chi phí vận tải, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam đồng thời làm tiền đề cho dịch vụ trung chuyển hàng hóa phục vụ các nước trong khu vực.

Song song với việc tổ chức khai thác các cảng trên sông Cái Mép – Thị Vải, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đang khởi động dự án đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện, dự án đầu tư xây dựng cảng Tiên Sa giai đoạn 2 và từng bước nghiên cứu đầu tư xây dựng cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng) quy mô 2 bến, có thể tiếp nhận tàu biển trọng tải đến 100.000 tấn. Bên cạnh đó, hoàn thiện và đưa vào khai thác cảng Sài Gòn – Hiệp Phước và tiếp tục nghiên cứu đầu tư xây dựng  giai đoạn 2 của dự án này cùng với việc  nâng cao hiệu quả kinh doanh các cảng liên doanh tại khu vực Cái Mép – Thị Vải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cảng CICT khu vực Cái Lân (Quảng Ninh) và phát triển, nâng cao năng lực khai thác các cảng tổng hợp Hậu Giang, Cần Thơ, Cam Ranh…

 

Định hướng phát triển giai đoạn 2016-2020 và đến 2030

Xác định một trong những mục tiêu quan trọng là đến năm 2020 “phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”, Đảng và Nhà nước đề ra các mục tiêu cơ bản đối với kinh tế hàng hải và xác định lấy kinh tế hàng hải làm yếu tố đột phá để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững góp phần bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia về biển, đảo.

Theo kế hoạch dự kiến, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam sẽ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)  vào quý 1 năm 2018. Trong đó, Nhà nước sẽ nắm giữ 65% vốn điều lệ tại Công ty mẹ, các nhà đầu tư bên ngoài được mua không quá 35% vốn; , Tổng công ty Hàng hải Việt Nam cũng nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên tại các Công ty cổ phần: cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn và cảng Đà Nẵng đồng thời tiếp tục duy trì nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistic đồng thời thoái vốn tối đa tại các doanh nghiệp vận tải biển.

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam hiện đang quản lý đội tàu biển gần 2 triệu tấn chiếm khoảng 25% tổng trọng tải đội tàu biển quốc gia, với độ tuổi trung bình khoảng 12,15. Tổng công ty có vốn góp tại 14 doanh nghiệp cảng biển với tổng chiều dài hơn 13.000m cầu bến, chiếm khoảng 30% tổng số chiều dài cầu cảng của cả nước, có khả năng thông qua hơn 70 triệu tấn/năm, bằng khoảng 20% năng lực của hệ thống cảng biển quốc gia. Ngoài ra, Tổng công ty còn có vốn góp tại 10 doanh nghiệp dịch vụ hàng hải với tổng diện tích kho bãi hơn 2,6 triệu m2 trải dài dọc theo đất nước.

Về vận tải biển, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam phát triển đội tàu chuyên dụng (tàu container, tàu chở dầu, tàu chở hàng rời…). Dự kiến, đến năm 2020 số tấn trọng tải đội tàu của Tổng công ty tham gia vận chuyển đạt khoảng 1,85 triệu tấn, tuổi tàu bình quân khoảng 10-12 tuổi với tàu container chiếm 17%, tàu dầu chiếm 26%, tàu hàng khô chiếm 57% trọng tải đội tàu.

Về logistics, dịch vụ này được đưa vào làm một trong 3 lĩnh vực phát triển trọng tâm của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam với mục tiêu hoàn thiện và đưa vào sử dụng cơ sở hạ tầng logistics gồm cảng biển và các trung tâm phân phối hàng hóa, trung tâm logistics, cảng cạn từ Bắc – Nam…

 

Bài viết khác

ĐỐI TÁC CỦA CHÚNG TÔI
  • SITC-DINHVU
  • vsico
  • msc
  • oocl
  • apl
  • yangming
  • benline
  • shinotrans